Nhập siêu gói thầu EPC từ nhà thầu Trung Quốc. Đâu là sự thật (kỳ 2)

31/05/2011

KỲ 2
NHÀ THẦU TRUNG QUỐC GIÀNH HỢP ĐỒNG EPC NHIỆT ĐIỆN ĐỐT THAN
CHỈ ĐỊNH THẦU CHIẾM ƯU THẾ
Như đã đề cập trong kỳ 1, từ kỳ 2 của bài viết trở đi, việc xem xét tình hình lựa chọn nhà thầu và thực hiện hợp đồng các gói thầu EPC được tập trung vào các dự án nhiệt điện đốt than.
Theo báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ năm 2006 đến nay, trong tổng số 9 gói thầu EPC xây dựng nhà máy nhiệt điện đốt than, có 5 gói thầu được chỉ định thầu (trong đó, 3 gói thầu chỉ định nhà thầu Trung Quốc, 1 gói thầu chỉ định nhà thầu Việt Nam và gói thầu còn lại chỉ định liên danh nhà thầu Trung Quốc+Nhật Bản); 4 gói thầu đấu thầu rộng rãi quốc tế (trong đó, có 1 nhà thầu Trung Quốc, 2 nhà thầu Nhật Bản và 1 liên danh nhà thầu Trung Quốc+Nhật Bản trúng thầu). Nếu xem liên danh nhà thầu Trung Quốc+Nhật Bản như là nhà thầu Trung Quốc (vì trên thực tế nhà thầu Trung Quốc là nhà thầu chính thực hiện hợp đồng) thì có 6 nhà thầu Trung Quốc giành được hợp đồng trong tổng số 9 hợp đồng nhiệt điện đốt than của EVN.
Theo số liệu do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cung cấp, trong số 7 nhà máy nhiệt điện đốt than do Tập đoàn TKV làm chủ đầu tư hoặc quản lý, có 4 gói thầu EPC được đấu thầu rộng rãi quốc tế (trong đó, có 3 nhà thầu Trung Quốc, 1 nhà thầu Nhật Bản thắng thầu); có 2 gói thầu chỉ định thầu cho nhà thầu Trung Quốc và 1 gói thầu đấu thầu hạn chế trong các nhà thầu Trung Quốc. Như vậy, nhà thầu Trung Quốc giành được 6/7 hợp đồng xây dựng nhà máy nhiệt điện đốt than do Tập đoàn TKV làm chủ đầu tư hoặc quản lý.
Trong khi đó, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) thường thực hiện các dự án nhiệt điện khí, có 1 gói thầu nhiệt điện đốt than (Vũng Áng 1) được chỉ định cho Tổng công ty Lắp máy Việt Nam làm tổng thầu.
Như vậy, xét toàn bộ các gói thầu EPC nhiệt điện đốt than do TKV, EVN và PVN làm chủ đầu tư hoặc quản lý thì có 8 gói thầu được tổ chức đấu thầu rộng rãi quốc tế, 8 gói thầu chỉ định thầu và 1 gói thầu đấu thầu hạn chế trong số các nhà thầu Trung Quốc. Trong 8 gói thầu đấu thầu rộng rãi quốc tế thì có 4 nhà thầu Trung Quốc, 3 nhà thầu Nhật Bản và 1 nhà thầu liên danh Nhật Bản+Trung Quốc trúng thầu (nhà thầu Marubeni+Đông Phương). Về chỉ định thầu, có 5 nhà thầu Trung Quốc, 2 nhà thầu Việt Nam và 1 nhà thầu liên danh Nhật Bản+Trung Quốc được lựa chọn. Nếu tính nhà thầu liên danh Marubeni+Đông Phương như 1 nhà thầu Trung Quốc thì nhà thầu Trung Quốc có tới 12 trong tổng số 17 hợp đồng EPC (chiếm 70%). Trong số 12 gói thầu này, có 6 gói thầu được chỉ định thầu cho nhà thầu Trung Quốc, 1 gói thầu đấu thầu hạn chế trong các nhà thầu Trung Quốc và 5 gói còn lại (đấu thầu rộng rãi quốc tế) nhà thầu Trung Quốc trúng thầu.
Con số 70%, mặc dù thấp hơn tỷ lệ 90% như một số tờ báo đề cập, nhưng là bằng chứng sống động cho thực trạng nhà thầu Trung Quốc tràn ngập các gói thầu EPC nhiệt điện đốt than. Nhà thầu Trung Quốc chiếm ưu thế cho dù hình thức lựa chọn nhà thầu là chỉ định thầu hay đấu thầu rộng rãi quốc tế. Xem xét kỹ, trong 12 hợp đồng nhà thầu Trung Quốc thực hiện, có tới 7 gói thầu là do được chỉ định thầu (với giả định hình thức đấu thầu hạn chế trong số các nhà thầu Trung Quốc là chỉ định thầu cho nhà thầu Trung Quốc và nhà thầu liên danh Marubeni+Đông Phương là nhà thầu Trung Quốc vì nhà thầu Đông Phương là nhà thầu chính thực hiện hợp đồng). Các con số này cho thấy, 58% nhà thầu Trung Quốc được lựa chọn xây dựng nhà máy nhiệt điện đốt than ở Việt Nam là do được chỉ định thầu; 42% còn lại là do trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi quốc tế.
Đâu là nguyên nhân của tình trạng này? Có phải như một số tờ báo đã đưa tin là giá dự thầu của nhà thầu Trung Quốc thấp, Luật Đấu thầu chỉ xét nhà thầu có giá rẻ trúng thầu?
Trước hết, một thực tế rõ ràng là nhà thầu Trung Quốc giành được nhiều hợp đồng EPC nhiệt điện đốt than đơn giản bởi vì… 58% số hợp đồng được chỉ định thầu cho họ, không phải cạnh tranh với bất kỳ nhà thầu nào từ các quốc gia khác. Hay nói cách khác, nhà thầu Trung Quốc có lợi thế để giành được hợp đồng mà không phải cạnh tranh với nhà thầu đến từ các nước khác. Lợi thế lớn nhất của nhà thầu Trung Quốc là họ được ưu đãi vay vốn từ Chính phủ Trung Quốc hoặc các ngân hàng thương mại trong nước ở Trung Quốc để thực hiện dự án ở nước ngoài. Trong khi đó, ở nước ta, vì thiếu vốn mà nhu cầu về điện ngày càng cấp bách, một số dự án nhiệt điện buộc phải vay vốn từ ngân hàng của Trung Quốc nên buộc phải chỉ định nhà thầu Trung Quốc như các dự án nhiệt điện: Quảng Ninh 1, Vĩnh Tân 1, Duyên Hải 1, hoặc đấu thầu hạn chế trong số các nhà thầu Trung Quốc (như dự án Nhiệt điện Cao Ngạn) hoặc đàm phán trực tiếp (dự án Nhiệt điện Sơn Động). Vay vốn từ Chính phủ, ngân hàng thương mại của một quốc gia và buộc phải lựa chọn nhà thầu từ quốc gia đó gần như là thông lệ trên thế giới. Việc phải lựa chọn nhà thầu Trung Quốc, Nhật Bản, Phần Lan… thực hiện các dự án do các quốc gia này tài trợ là điều kiện gần như bắt buộc để được vay vốn mà các nước đang phát triển như Việt Nam phải tuân theo.
Các dự án nhiệt điện còn lại được chỉ định thầu cho nhà thầu Trung Quốc vì các nhà thầu này trước đó đã trúng thầu gói thầu đấu thầu rộng rãi quốc tế, nghĩa là thực hiện theo cơ chế “nhân đôi” theo Quyết định 1195/QĐ-TTg ngày 9/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù để đầu tư xây dựng các công trình điện cấp bách giai đoạn 2006 - 2010. Chẳng hạn như các dự án nhiệt điện: Cẩm Phả 2, Hải Phòng 2, Quảng Ninh 2. Cơ chế đặc thù theo Quyết định 1195/QĐ-TTg là nhằm nhanh chóng xây dựng các công trình điện để phục vụ nhu cầu về điện ngày càng cao của đất nước.
Mặc dù 58% số hợp đồng EPC nhiệt điện đốt than nhà thầu Trung Quốc có được là do được chỉ định thầu nhưng không thể phủ nhận một con số tương đối lớn (42%) hợp đồng mà nhà thầu Trung Quốc giành được là nhờ trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi quốc tế. Vì Luật Đấu thầu chăng? Bài viết sẽ đi sâu phân tích vấn đề này tại kỳ 3.
Xem tiếp kỳ 3
(Nguồn Báo Đấu thầu)