Một số nội dung cơ bản của báo cáo tổng kết công tác đấu thầu năm 2010

01/06/2011

Thực hiện Điều 66 và Điều 69 của Luật Đấu thầu và hướng dẫn tại khoản 9 Điều 76 Nghị định 85/CP về việc báo cáo tình hình thực hiện các hoạt động đấu thầu hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản số 2813/BKHĐT-QLĐT ngày 9/5/2011 báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện công tác đấu thầu năm 2010. Tình hình triển khai thực hiện công tác đấu thầu năm 2010 được tóm lược theo một số nội dung như sau:
Tổng hợp chung kết quả thực hiện đấu thầu
Năm 2010, tổng vốn nhà nước (vốn nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển, mua sắm tài sản nhà nước và vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh) áp dụng lựa chọn nhà thầu theo Luật Đấu thầu là 357.269,98 tỷ đồng, chênh lệch giữa tổng giá trúng thầu so với tổng giá gói thầu đạt được là 6,63% tương ứng với mức tiết kiệm là 23.172,08 tỷ đồng (khoảng 1,13 tỷ USD).
Theo mục đích sử dụng vốn: với số liệu tại Bảng 1, gói thầu sử dụng vốn nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển có số lượng lớn nhất trong tổng số gói thầu đã thực hiện trong năm 2010, cụ thể là 89.516 gói thầu (chiếm 94%), tổng giá gói thầu là 324.086,62 tỷ đồng (chiếm 90%) và tổng giá trúng thầu là 302.987,97 tỷ đồng (chiếm 91%). Gói thầu sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản có số lượng gói thầu đứng thứ hai, 5.025 gói thầu (chiếm 5,2%); tổng giá gói thầu là 28.873,6 tỷ đồng (chiếm 8%), tổng giá trúng thầu là 26.864,28 tỷ đồng (chiếm 8%). Gói thầu sử dụng vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh có số lượng gói thầu thấp nhất, chỉ có 528 gói thầu (chiếm 0,5%) với tổng giá gói thầu là 4.039 tỷ đồng (chiếm 2%) và tổng giá trúng thầu là 4.245 tỷ đồng (chiếm 1%).
Bảng 1

Về tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu: các gói thầu sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản có tỷ lệ tiết kiệm cao nhất, đạt 6,95%, gói thầu sử dụng vốn nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển có tỷ lệ tiết kiệm đứng thứ hai, đạt 6,51%; gói thầu sử dụng vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh có tỷ lệ tiết kiệm thấp nhất đạt 1,48%.
So với năm 2009, gói thầu sử dụng vốn nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển năm 2010 tăng về số lượng gói thầu nhưng giảm về tổng giá gói thầu và tổng giá trúng thầu, cụ thể tăng thêm 16.301 gói thầu nhưng tổng giá gói thầu giảm 43.507,03 tỷ đồng và tổng giá trúng thầu giảm 46.786,95 tỷ đồng. Ngược lại, gói thầu sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản có số gói thầu giảm nhưng tổng giá gói thầu và tổng giá trúng thầu lại cao hơn, cụ thể giảm 420 gói thầu nhưng tổng giá gói thầu tăng 4.319,7 tỷ đồng và tổng giá trúng thầu tăng 4.685 tỷ đồng. Gói thầu sử dụng vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh thì lại có số lượng và tổng giá trúng thầu giảm so với năm 2009, cụ thể số gói thầu giảm 1.014 gói và tổng giá trúng thầu giảm 12.785,26 tỷ đồng.
Theo hình thức lựa chọn nhà thầu: với số liệu tại Bảng 2, chỉ định thầu có số lượng gói thầu áp dụng lớn nhất: 70.147 gói và chiếm 73% trong tổng số gói thầu đã thực hiện trong năm 2010, có tổng giá trúng thầu là 113.643,51 tỷ đồng nhưng chỉ tiết kiệm được 5.656 tỷ đồng, tỷ lệ tiết kiệm thấp, chỉ đạt 4,74%.
Đấu thầu rộng rãi có số lượng gói thầu áp dụng lớn thứ hai: 13.959 gói và chiếm 15% tổng số; có tổng giá trúng thầu là 185.532,83 tỷ đồng; có giá trị tiết kiệm được lớn nhất đạt 15.191,46 tỷ đồng với tỷ lệ tiết kiệm đạt 7,56%, chiếm 65% tổng giá trị tiết kiệm của tất cả các hình thức (23.172,08 tỷ đồng).
Chào hàng cạnh tranh có số lượng gói thầu áp dụng là 5.655 gói, chỉ bằng 6% số gói thầu áp dụng chỉ định thầu với mức tiết kiệm đạt được là thấp nhất (242,22 tỷ đồng) và tỷ lệ tiết kiệm cũng thấp nhất (2,65%).
Bảng 2

So với năm 2009, số gói thầu áp dụng chỉ định thầu năm 2010 chỉ tăng về số lượng gói thầu nhưng giảm về tổng giá gói thầu và tổng giá trúng thầu. Cụ thể tăng thêm 16.307 gói thầu nhưng tổng giá trúng thầu giảm được 79.182 tỷ đồng, ngoài ra tỷ lệ tiết kiệm đối với hình thức chỉ định thầu năm 2010 đạt mức cao hơn so với năm 2009 (năm 2010 là 4,74%, năm 2009 là 2,07%).
Xây dựng chính sách về đấu thầu:
Thứ nhất, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đó dự thảo trình Chính phủ ký ban hành Chỉ thị 494/CT-TTg ngày 24/10/2010. Việc ban hành Chỉ thị đó giúp đưa ra những giải pháp thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dựng hàng Việt Nam để xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất nhiều hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Thứ hai, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành văn bản 3081/BKH-QLĐT đề nghị các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương triển khai thực hiện Chỉ thị số 494/CT-TTg về việc sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu và các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước; triển khai thực hiện văn bản số 157/TTg-KTN ngày 22/01/2010 về việc tình hình thực hiện chỉ định thầu theo văn bản số 229/TTg-KTN và tăng cường công tác quản lý đấu thầu theo trách nhiệm được phân cấp.
Thứ ba, về việc xây dựng các mẫu tài liệu đấu thầu, trong năm 2010 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành 16 thông tư và văn bản hướng dẫn, bao gồm:
(1) Thông tư số 01/2010/TT-BKH ngày 06/1/2010 quy định chi tiết lập Hồ sơ mời thầu xây lắp (gồm 84 trang).
(2) Thông tư số 02/2010/TT-BKH ngày 19/01/2010 quy định chi tiết lập Hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp quy mô nhỏ (gồm 65 trang).
(3) Thông tư số 03/2010/TT-BKH ngày 27/01/2010 quy định chi tiết lập Hồ sơ mời sơ tuyển xây lắp (gồm 29 trang).
(4) Thông tư 04/2010/TT-BKH ngày 01/02/2010 quy định chi tiết lập Hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu xây lắp (gồm 53 trang).
(5) Thông tư số 05/2010/TT-BKH ngày 10/02/2010 quy định chi tiết lập Hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hoá (gồm 79 trang).
(6) Thông tư số 06/2010/TT-BKH ngày 09/3/2010 quy định chi tiết lập Hồ sơ mời thầu dịch vụ tư vấn (gồm 76 trang).
(7) Thông tư số 08/2010/TT-BKH ngày 21/4/2010 quy định chi tiết lập báo cáo thẩm định kết quả đấu thầu (gồm 11 trang).
(8) Thông tư số 09/2010/TT-BKH ngày 21/4/2010 quy định chi tiết lập báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp (gồm 36 trang).
(9) Thông tư số 10/2010/TT-BKH ngày 13/5/2010 quy định về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về đấu thầu (gồm 22 trang).
(10) Thông tư số 11/2010/TT-BKH ngày 27/5/2010 quy định chi tiết về chào hàng cạnh tranh (gồm 35 trang).
(11) Thông tư số 15/2010/TT-BKH ngày 29/6/2010 quy định chi tiết lập báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu đối với các gói thầu dịch vụ tư vấn (gồm 25 trang).
(12) Thông tư số 17/2010/TT-BKH ngày 22/7/2010 quy định về quy định chi tiết thí điểm đấu thầu qua mạng (gồm 20 trang).
(13) Thông tư số 20/2010/TT-BKH-BTC ngày 21/9/2010 liên tịch Bộ Kế hoạch&Đầu tư và Bộ Tài chính quy định về quy định chi tiết việc cung cấp thông tin về đấu thầu đăng tải trên Báo Đấu thầu (gồm 30 trang).
(14) Thông tư số 21/2010/TT-BKH ngày 28/10/2010 quy định chi tiết về thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu (gồm 12 trang).
(15) Thông tư số 01/2011/TT-BKHĐT ngày 4/01/2011 quy định chi tiết kiểm tra về công tác đấu thầu (gồm 28 trang).
(16) Văn bản số 606/BKH-QLĐT ngày 01/12/2010 về hướng dẫn cung cấp thông tin trên Hệ thống đấu thầu qua mạng và Báo Đấu thầu.
Việc ban hành các Mẫu tài liệu đấu thầu nhằm thống nhất về nội dung và cơ cấu HSMT, tăng cường sự minh bạch, nâng cao chất lượng và tiết kiệm thời gian đối với quá trình đấu thầu theo thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi cho công tác đấu thầu và đã được nhiều đơn vị làm công tác đấu thầu đánh giá cao.
Thứ tư, trên cơ sở báo cáo số 13/BKHĐT-QLĐT ngày 5/01/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành văn bản số 164/TTg-KTN để chỉ đạo về việc thực hiện chỉ định thầu theo cơ chế 229, theo đó đối với các gói thầu được áp dụng chỉ định thầu theo cơ chế 229 đã ký hợp đồng nhưng chưa hoàn thành thì cho phép gia hạn thời gian thực hiện các gói thầu này sang năm 2011, còn đối với các gói thầu được áp dụng chỉ định thầu nhưng chưa tiến hành thủ tục chỉ định thầu, chưa ký kết hợp đồng với nhà thầu yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương giãn tiến độ và quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu phù hợp. Để đảm bảo chủ trương trên được thực hiện nghiêm túc, năm 2011 Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ đi kiểm tra tại một số địa phương.
Công tác đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ đấu thầu
Trong năm 2010 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị phổ biến, giới thiệu các quy định của pháp luật về đấu thầu; ngoài ra cũng đó tổ chức các khoá đào tạo hoặc đào tạo tại chỗ cho các đơn vị thí điểm và các đơn vị khác có nhu cầu. Tổng cộng cho đến thời điểm này đó đào tạo được 46 khóa cho gần 2.091 học viên trên toàn quốc trong đó tập trung chủ yếu các đối tượng là bên mời thầu, chủ đầu tư - nhân tố được xem là chủ chốt trong hoạt động đấu thầu.
Về phía các cơ sở đào tạo tại các địa phương, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên toàn quốc có 75 cơ sở đào tạo, trong năm 2010 đã tổ chức được 683 khoá học cho gần 25.585 học viên trên khắp cả nước. Trong năm 2011 Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tiến hành kiểm tra chất lượng hoạt động của một số cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội để tăng cường việc quản lý và nâng cao chất lượng công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu tại các cơ sở đào tạo.
Đến nay phần lớn các cán bộ tham gia công tác đấu thầu đều có chứng chỉ tham gia khóa học đấu thầu, nắm được về cơ bản nghiệp vụ và kỹ năng khi tham gia tổ chức đấu thầu nên việc tổ chức đấu thầu ở các Bộ, ngành và địa phương về cơ bản phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổng hợp danh sách các cơ sở đào tạo có chức năng bồi dưỡng nghiệp vụ về đấu thầu để đăng tải trên website muasamcong.mpi.gov.vn. Đến nay đã có 75 cơ sở đào tạo đăng ký xin xác nhận là cơ sở đào tạo có chức năng bồi dưỡng nghiệp vụ về đấu thầu và có 29 giảng viên đăng ký vào hệ thống dữ liệu giảng viên đấu thầu. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đăng tải danh sách 75 cơ sở đào tạo và 29 giảng viên đấu thầu này lên trang web muasamcong.mpi.gov.vn.
Việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu đó giúp hoạt động đào tạo của các cơ sở trong năm qua từng bước đi vào nề nếp, đảm bảo chất lượng hơn, đồng thời tạo nền tảng đẩy mạnh hoạt động này trong thời gian tới.
Hướng dẫn nghiệp vụ đấu thầu: năm 2010 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có 400 văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật đấu thầu cho các Bộ ngành, doanh nghiệp, địa phương; đã có gần 200 văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và gửi Văn phòng Chính phủ; có hơn 200 văn bản xử lý về các nội dung khác trong đấu thầu như góp ý cho các Bộ, ngành, địa phương khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu. Đối với trả lời qua điện thoại, thư điện tử và trao đổi trực tiếp: Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời qua điện thoại cũng như trao đổi trực tiếp thường xuyên, hàng ngày cho các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác đấu thầu nhằm kịp thời giải đáp các thắc mắc, tháo gỡ khó khăn đối với tình huống cụ thể khi có yêu cầu.
Công tác kiểm tra về đấu thầu và xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu, trong năm 2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thực hiện tổ chức kiểm tra về công tác đấu thầu và tham gia các hoạt động thanh tra về đấu thầu cụ thể như sau:
- Theo kế hoạch kiểm tra năm 2010: thực hiện 06 cuộc Kiểm tra tại 06 tỉnh là Bắc Giang, Điện Biên, Hưng Yên, Phú Yên, Nghệ An, Kiên Giang.
- Thực hiện 02 cuộc kiểm tra tại Uỷ ban An toàn giao thông và Ban Quản lý Dự án 85 - Bộ Giao thông vận tải theo chương trình hợp tác phòng chống tham nhũng Việt Nam - Nhật Bản;
- Kiểm tra dự án cáp quang biển do Tập đoàn Bưu chính viễn thông làm chủ đầu tư theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.
- Kiểm tra đôn đốc tình hình phân cấp và thực hiện chỉ định thầu đối với các dự án/gói thầu được Thủ tướng chính phủ cho phép áp dụng chỉ định thầu tại Hà Nam, Ninh Bình, TP. Hồ Chí Minh và Tiền Giang theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Tham gia Đoàn kiểm tra và giám sát Vinashin theo yêu cầu của Uỷ ban kiểm tra TW;
- Tham gia với tư cách là thành viên Tổ giám định (theo đề nghị của Bộ Công an) quy trình đầu tư sử dụng các nguồn vốn trong một số dự án do Tập đoàn Vinashin thực hiện.
- Kiểm tra tình hình giải ngân tại 6 tỉnh miền Trung theo Nghị quyết 18/2011/NQ-CP;
Xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu: Trong năm 2009 có 3 đơn vị gửi danh sách tổ chức, cá nhân bị xử lý vi phạm, trong đó có 4 tổ chức bị xử lý vi phạm; năm 2010 có 18 đơn vị gửi danh sách, trong đó có 29 tổ chức bị xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu. Trong tổng số 33 nhà thầu bị xử lý vi phạm thì có 1 nhà thầu vi phạm hoạt động đấu thầu trong lĩnh vực tư vấn, 2 nhà thầu vi phạm trong lĩnh vực cung cấp hàng hoá, còn lại 30 nhà thầu bị xử lý vi phạm trong lĩnh vực xây lắp.
Quản lý nhà thầu nước ngoài: Trong năm 2010 Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận được 29 báo cáo gửi đến với danh sách gồm 107 nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam, trong đó trúng thầu đối với gói thầu EPC là 7 gói, đối với gói thầu tư vấn là 54 gói, xây lắp là 9 gói, hàng hoá là 37 gói.
Việc tổng hợp danh sách nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam của các Bộ, ngành, địa phương bước đầu cho thấy các đơn vị đã thống kê số liệu để phục vụ cho việc quản lý tốt nhà thầu nước ngoài. Để tăng cường quản lý tốt nhà thầu nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và thực hiện pháp luật Việt Nam như sử dụng lao động trong nước, tăng cường nâng cao chất lượng thực hiện gói thầu cũng như đảm bảo tiến độ thực hiện, đặc biệt là các gói thầu EPC, ngày 5/4/2011 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản số 2081/BKHĐT-QLĐT gửi Thủ tướng Chính phủ về dự thảo chỉ thị chấn chỉnh công tác quản lý đối với các gói thầu EPC.
Công khai hoá các thông tin về đấu thầu
Năm 2010 là năm thứ 3 công tác thông tin, tuyên truyền về đấu thầu được Báo Đấu thầu thực hiện theo hình thức báo phát hành hàng ngày đều đặn 5 số/tuần vào các ngày từ thứ 2 đến thứ 6 và được phát hành rộng rãi tới các tỉnh, thành phố trong cả nước. Số lượng Báo phát hành hàng tháng tăng dần đều qua các kỳ. Năm 2010 đăng 3.200 tin, bài, ảnh, ước tính phát hành được 1,4 triệu tờ, tăng 6% so với năm 2009. Tổng số đại lý phát hành là 22 đại lý, khai thác mới 06 đại lý tại Hà Nội và TP.HCM. Báo đã thực hiện đăng tải 34.483 thông tin, trong đó có 4.266 kế hoạch đấu thầu; 24.707 thông báo mời thầu, 258 danh sách nhà thầu tham gia đấu thầu, 3.311 kết quả lựa chọn nhà thầu, 1.941 thông tin khác. Đến nay, trước yêu cầu đăng tải thông tin đấu thầu ngày càng tăng, Báo Đấu thầu đã đề nghị và được Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép tăng số trang phát hành lên 80 trang.
Năm 2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục nâng cấp và hoàn thiện website Báo đấu thầu tại địa chỉ http://www.thongtindauthau.com.vn, cụ thể là xây dựng, bảo trì và nâng cấp website Báo đấu thầu nhằm trợ giúp chủ đầu tư, bên mời thầu tra cứu thông tin tình trạng thông báo mời thầu được gửi đăng tải trên Báo đấu thầu; nâng cấp tổng đài giải đáp thông tin đấu thầu với số máy 1900571270; quản trị, vận hành nâng cấp website Báo đấu thầu, xây dựng, vận hành, nâng cấp và bảo trì cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ, cơ sở dữ liệu cho website, hàng ngày kiểm tra tình trạng website; hướng dẫn đăng tải thông tin đấu thầu trên Báo đấu thầu; nâng cấp quy trình đăng tải kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu mới theo hướng chủ đầu tư, bên mời thầu sẽ tự đưa thông tin lên, hệ thống tự động kiểm tra sự chính xác của những thông tin mà chủ đầu tư nhập vào và tổng hợp, cung cấp câu hỏi đấu thầu, tình huống đấu thầu để đăng tải trên Báo Đấu thầu.
Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và tiếp tục xây dựng, quản lý trang thụng tin điện tử về đấu thầu, Hệ thống đấu thầu qua mạng quốc gia và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đấu thầu, cụ thể là tiếp tục triển khai Dự án Ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm chính phủ và Triển khai Dự án Xây dựng Hệ thống mua sắm chính phủ điện tử thử nghiệm (Dự án KOICA)
Hội nhập và hợp tác quốc tế: Năm 2010, hoạt động hội nhập và hợp tác quốc tế trong đấu thầu luôn được chú trọng và tăng cường. Trong đó, một số hoạt động có ý nghĩa quan trọng như Bộ Kế hoạch và Đầu tư đó tham gia Đoàn đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bỡnh Dương (TPP) với tư cách là trưởng nhóm mua sắm chính phủ. Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã khảo sát các Bộ, ngành liên quan nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của Hiệp định TPP (chương mua sắm chính phủ) đến thị trường mua sắm Chính phủ tại Việt Nam để trên cơ sở đó sẽ đề xuất mức độ tham gia của Việt Nam vào thị trường mua sắm Chính phủ trong khuôn khổ TPP. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức thực hiện Chương trình nghiên cứu về Hợp tác công – tư (PPP), tổ chức một số hội thảo về PPP, làm việc với các tổ chức quốc tế về PPP, tổ chức các đoàn công tác, làm việc tại nước ngoài như khảo sát đường cao tốc tại Phillipin, khảo sát tại Nhật Bản, khảo sát tại Anh và phối hợp 03 đoàn công tác của các chuyên gia Samsung SDS, Hàn Quốc, đề nghị với KOICA hỗ trợ nghiên cứu khảo sát toàn diện hệ thống đấu thầu qua mạng của Hàn Quốc.
Một số kết quả đạt được trong năm 2010 được thể hiện như sau :
Hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu về cơ bản được hoàn thiện, thống nhất theo hướng tăng cường phân cấp: Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đó được hoàn thiện, thống nhất theo hướng tăng cường phân cấp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đó ban hành các văn bản hướng dẫn về đấu thầu đảm bảo thực hiện quy định của pháp luật về đấu thầu được thông suốt, thống nhất và thuận tiện trong quá trình thực hiện dự án, khắc phục được những khó khăn trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản. Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đó thống nhất và chuẩn hóa về thủ tục, thời gian trong hoạt động đấu thầu, quy định chi tiết về lập, thẩm định phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, nâng cao quyền và trách nhiệm của chủ đầu tư, từ đó tạo điều kiện tiết kiệm thời gian trong đấu thầu, đảm bảo tiến độ chung của toàn bộ dự án đầu tư.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản bước đầu đã đi vào cuộc sống, nâng cao vai trò của chủ đầu tư trong quá trình quản lý, điều hành và quyết định các nội dung trong quá trình triển khai dự án (quyết định nội dung hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, giải quyết tình huống trong đấu thầu). Việc tăng cường phân cấp cho chủ đầu tư đó tăng cường tính chủ động linh hoạt cho chủ đầu tư, thu hẹp được cấp trình duyệt trong quá trình lựa chọn nhà thầu nên thời gian lựa chọn nhà thầu cũng đó được rút ngắn đáng kể.
Ngay sau khi Nghị định 85/CP có hiệu lực thi hành (01/12/2009), trong năm 2010 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành 16 thông tư quy định về các Mẫu tài liệu trong đấu thầu, đảm bảo việc triển khai thực hiện quy định của Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi và Nghị định 85/CP được thông suốt, thống nhất và thuận tiện cho quá trình thực hiện các dự án.
Ngoài ra, việc tăng cường phân cấp cho Chủ đầu tư theo tinh thần của Luật sửa đổi và Nghị định 85/CP đã bước đầu thu hẹp được cấp trình duyệt trong quá trình lựa chọn nhà thầu. Do đó rút ngắn được thời gian trình, duyệt và thẩm định trong quá trình lựa chọn nhà thầu nên thời gian lựa chọn nhà thầu cũng đã được rút ngắn đáng kể.
Đấu thầu rộng rãi tăng, chỉ định thầu giảm so với các năm trước: Năm 2010, hình thức đấu thầu rộng rãi vẫn là hình thức được lựa chọn nhiều. Theo số liệu tổng hợp, đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước nói chung thì tổng giá gói thầu đối với các gói thầu áp dụng đấu thầu rộng rãi năm 2010 tăng 16.083 tỷ, cụ thể năm 2009 tổng giá gói thầu là 184.640 tỷ đồng thì đến năm 2010 đã tăng lên là 200.724 tỷ đồng. Đối với hình thức chỉ định thầu thì tổng giá gói thầu áp dụng chỉ định thầu năm 2009 là 196.892 tỷ đồng, đến năm 2010 giảm xuống 77.592 tỷ đồng là 119.299 tỷ đồng. Ngoài ra tỷ lệ tiết kiệm đối với hình thức chỉ định thầu năm 2010 cao hơn năm 2009 (năm 2009 từ 2,07% tăng lên 4,74%).
Tiết kiệm cho nguồn vốn của Nhà nước: Mặc dù năm qua có nhiều biến động về giá cả, song công tác đấu thầu vẫn mang lại hiệu quả đáng kể. Việc thực hiện theo Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi và Nghị định 85/CP không chỉ giúp chủ đầu tư, bên mời thầu lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu mà còn giúp tiết kiệm được cho nhà nước 23.172,078 tỷ đồng, tương đương 1,1 tỷ USD bằng 1% GDP của cả nước, đây là con số rất ý nghĩa thể hiện hiệu quả của công tác đấu thầu. Ngoài ra, tiết kiệm đạt được chủ yếu từ các hình thức đấu thầu mang tính cạnh tranh như đấu thầu rộng rãi hay đấu thầu hạn chế. Điều đó cho thấy, việc quy định bắt buộc áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, chỉ được áp dụng các hình thức khác (kém cạnh tranh hơn) khi có đủ điều kiện, không những giúp tăng số lượng các gói thầu áp dụng đấu thầu rộng rãi mà đã trực tiếp đem lại giá trị tiết kiệm đáng kể.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã được chú trọng và triển khai trên diện rộng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu: kiểm tra, thanh tra về đấu thầu đã góp phần ngăn ngừa các hành vi sai phạm nói chung và các quy định của pháp luật về đấu thầu nói riêng. Ở nhiều địa phương, kiểm tra đấu thầu đã giúp ngăn chặn kịp thời các sai phạm trong đấu thầu như nhà thầu có dấu hiệu vi phạm trong HSDT khi tham gia đấu thầu tại một số gói thầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nhà thầu cung cấp thông tin không trung thực trong HSDT trên địa bàn tỉnh Yên Bái và Ninh Bình hay đánh giá HSDT không căn cứ vào yêu cầu của HSMT làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long... và đã có biện pháp xử lý kịp thời.
Công khai hoá các thông tin về đấu thầu được tăng cường đáng kể: Việc công khai hóa thông tin về đấu thầu được tăng cường thể hiện qua việc gia tăng nhu cầu đăng tải thông tin. Năm 2010, số lượng Báo Đấu thầu được phát hành đã tăng lên và tần suất xuất bản đã đáp ứng được về tính kịp thời, rộng rãi đến các đối tượng có quan tâm tới công tác đấu thầu. Ngoài trụ sở chính của Báo Đấu thầu tại Hà Nội, với việc có thêm 6 đại lý của Báo Đấu thầu tại TP. Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho các nhà thầu không chỉ có được thông tin về đấu thầu trên cả nước mà còn dễ dàng tiếp cận thông tin đấu thầu tập trung của 2 thành phố lớn nhất của cả nước (có số lượng gói thầu được thực hiện nhiều nhất so với các địa phương khác). Ngoài ra, số lượng Báo phát hành năm 2010 đã tăng gần 80.000 tờ báo (tăng 6% so với năm 2009) và số trang phát hành được tăng lên 80 trang, nhờ đó Báo Đấu thầu đã thực sự trở thành công cụ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đấu thầu đối với cả nước.
Song song với Báo Đấu thầu, trang thông tin điện tử về đấu thầu – Hệ thống đấu thầu qua mạng - tại địa chỉ htttp://muasamcong.mpi.gov.vn được cập nhật hàng ngày, tận dụng các ư u thế của mạng internet trong việc tạo thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân đang tải, truy cập và tìm kiếm thông tin đấu thầu ở mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời đây là kênh thông tin hữu ích cho cơ quản quản lý nhà nước về đấu thầu tiếp thu các góp ý đối với các văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành.
Ngoài ra, chuyên mục đường dây nóng ra đời từ tháng 6/2008 và chính thức trở thành một chuyên mục rất được đông đảo độc giả quan tâm từ tháng 8/2008. Bộ phận tiếp nhận thông tin phản ánh từ khắp cả nước về những việc làm trái quy định, không phù hợp, làm khó nhà thầu. Từ những bài viết trên chuyên mục đường dây nóng, cơ quan chức năng vào cuộc yêu cầu các đơn vị bị phản ánh cần nghiêm túc thực hiện đúng Luật Đấu thầu.
Trên cơ sở các báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương gửi đến về danh sách các tổ chức, cá nhân bị xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu và danh sách nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã theo dõi và tổng hợp danh sách và đăng tải trên trang web muasamcong.mpi.gov.vn để các chủ đầu tư và bên mời thầu được biết.
Việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo: Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhận được gần 30 đơn kiến nghị của các nhà thầu; mặc dù các đơn kiến nghị gửi đến không thuộc thẩm quyền giải quyết nhưng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định và yêu cầu các cơ quan này thực hiện giải quyết kiến nghị theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu hiện hành và có báo cáo phản hồi để theo dõi.
Tuy nhiên tình hình thực hiện công tác đấu thầu năm 2010 có một số tồn tại, hạn chế như sau: Cơ chế chính sách liên quan đến đấu thầu của một số cơ quan Chính phủ chưa được ban hành kịp thời và việc triển khai thực hiện còn hạn chế: Năm 2010 là năm bắt đầu thực thi Luật sửa đổi, Nghị định 85/CP sau khi các thay đổi chính sách pháp luật về đấu thầu diễn ra nhanh chóng. Ngay sau khi Luật sửa đổi, Nghị định 85/CP ra đời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành rất nhiều các mẫu tài liệu đấu thầu và thông tư hướng dẫn. Một số cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ hướng dẫn một số nội dung về đấu thầu (quy định tại Điều 76 Nghị định 85/CP) (Bộ Tài chính, Bộ Công thương) chưa thực hiện việc sửa đổi, bổ sung các văn bản đã ban hành cho phù hợp với quy định mới của pháp luật về đấu thầu, chưa ban hành văn bản hướng dẫn theo nhiệm vụ được giao. Việc chậm sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn các nội dung nêu trên đã gây ra sự lúng túng và thiếu cơ sở pháp lý cho quá trình thực hiện dẫn đến sự kéo dài thời gian trong quá trình triển khai thực hiện dự án.
Ngoài ra, tại nhiều địa phương, sau khi Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi và Nghị định 85/CP có hiệu lực thi hành, một số địa phương đã có quy định về đấu thầu riêng áp dụng tại địa phương mình nhưng chưa phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu và vẫn thực hiện theo quy chế cũ, do vậy có nhiều quy định không còn phù hợp hoặc trái với quy định hiện hành (ví dụ tỉnh Hà Nam). Điều này đôi khi dẫn đến tăng thêm thủ tục hành chính, kéo dài thời gian đấu thầu và không đảm bảo các mục tiêu của công tác đấu thầu.
Tính chuyên môn, chuyên nghiệp về đấu thầu chưa đồng đều và còn hạn chế ở một số địa phương: Việc phân cấp mạnh cho chủ đầu tư tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ bản, tuy nhiên còn có một số chủ đầu tư năng lực còn hạn chế không theo kịp nhiệm vụ được giao, còn lúng túng trong khâu lập kế hoạch đấu thầu, thẩm định hồ sơ mời thầu và kết quả đấu thầu. Bên cạnh đó, nhiều chủ đầu tư còn chưa chủ động, còn trông chờ ỷ lại nhiều tổ chức , đơn vị tư vấn mà không xem xét, kiểm tra kỹ các hồ sơ, thủ tục..trước khi phê duyệt. Ngoài ra, toàn bộ quá trình đấu thầu chủ yếu do chủ đầu tư quyết định, gần như khép kín và không có cơ quan giám sát, thẩm tra, thẩm định. Các cơ quan quản lý đấu thầu hiện nay (người có thẩm quyền, Sở Kế hoạch đầu tư...) nếu có phát hiện ra thì phải sau đấu thầu, sau thanh kiểm tra, thậm chí sau khi thực hiện xong gói thầu, trừ trường hợp có kiến nghị. Bên cạnh đó năng lực chuyên môn của nhiều chủ đầu tư, bên mời thầu đặc biệt là ở cấp huyện, xã, khu vực vùng sâu, vùng xa, các bệnh viện, trường học.. còn hạn chế do các chủ đầu tư, bên mời thầu chưa có kinh nghiệm, tính chuyên môn chưa cao dẫn đến chất lượng của hoạt động đấu thầu chưa được đảm bảo. Ở rất nhiều địa phương, một số chủ đầu tư là Giám đốc bệnh viện, Hiệu trưởng trường học.. rất ngại xem xét, phê duyệt kết quả đấu thầu vì thiếu chuyên môn về lĩnh vực quản lý nhà nước về đấu thầu nhưng lại cũng e ngại về chất lượng của các tổ chức tư vấn đấu thầu. Do đó, các chủ đầu tư nêu trên vẫn trông mong vào sự hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về đấu thầu. Ngoài ra, chất lượng của một số đơn vị tư vấn ở địa phương còn hạn chế, đặc biệt là tư vấn đấu thầu. Nhiều hồ sơ do các đơn vị tư vấn lập để chủ đầu tư trình thẩm định, phê duyệt không đạt yêu cầu, có nhiều sai sót dẫn đến hồ sơ không đạt chất lượng và yêu cầu theo quy định, kéo dài thời gian thẩm định, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án.
Chất lượng của một số công việc chuẩn bị cho đấu thầu vẫn còn bất cập, công tác lập, trình và phê duyệt kế hoạch đấu thầu – công cụ định hướng, kim chỉ nam cho toàn bộ quá trình đấu thầu chưa được thực hiện theo quy định. Qua kiểm tra công tác đấu thầu, nhiều địa phương không phê duyệt kế hoạch đấu thầu tổng thể mà chỉ phê duyệt cho từng gói thầu hoặc nếu có thì chưa đầy đủ như không bao gồm các gói thầu tư vấn, gói thầu xây lắp áp dụng hình thức chỉ định thầu, kế hoạch đấu thầu không chia thành 3 phần công việc rõ ràng nên khi kiểm tra có nhiều dự án vượt tổng mức đầu tư đã duyệt nhưng không được phê duyệt điều chỉnh, từ đó dẫn đến sự chậm trễ hoàn thành công trình do không bố trí đủ vốn và gây nợ đọng trong xây dựng cơ bản. Ngoài ra, chất lượng của hồ sơ mời thầu vẫn còn nhiều hạn chế. Trong một số trường hợp chỉ vì một vài chi tiết trong hồ sơ mời thầu do tư vấn lập không chuẩn xác mà có thể dẫn đến phức tạp trong đánh giá hồ sơ dự thầu, phải xử lý tình huống gây chậm trễ. Trong một số trường hợp khác còn phải hủy đấu thầu làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án và lãng phí tiền của nhà nước.
Hình thức lựa chọn nhà thầu được áp dụng chưa đáp ứng tinh thần tiết kiệm và đảm bảo hiệu quả kinh tế: Mặc dù chỉ định thầu là hình thức lựa chọn nhà thầu mang lại hiệu quả kinh tế không cao (thể hiện qua giá trị và tỷ lệ tiết kiệm khá thấp) vậy mà chỉ định thầu lại được áp dụng nhiều nhất trong năm 2010. Cụ thể như: trong tổng số gói thầu được thực hiện, chỉ định thầu chiếm 73,78%; sử dụng 113.643,51 tỷ đồng (chiếm 33% tổng giá trúng thầu) và chỉ mang lại tỷ lệ tiết kiệm 4,7%; hay trong tổng số 89.516 gói thầu thuộc các dự án đầu tư phát triển, chỉ định thầu chiếm 75,47% tổng số gói; sử dụng 108.594 tỷ đồng (chiếm 33,5% tổng giá trúng thầu) và chỉ mang lại tỷ lệ tiết kiệm 4%.
Ngược lại, đấu thầu rộng rãi hay đấu thầu hạn chế đều có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn rất nhiều lần so với chỉ định thầu, cụ thể là 7,56% (đấu thầu rộng rãi) và 6,29% (đấu thầu hạn chế) lại ít được lựa chọn áp dụng. Đấu thầu rộng rãi có số gói thầu áp dụng chỉ bằng 1/5 số gói thầu chỉ định thầu nhưng mang lại giá trị tiết kiệm cao gần gấp 1,5 lần giá trị tiết kiệm do chỉ định thầu mang lại. Đấu thầu hạn chế được xem như là một hình thức lựa chọn nhà thầu kém cạnh tranh, nhưng so với chỉ định thầu thì vẫn hiệu quả hơn: số gói thầu áp dụng đấu thầu hạn chế chỉ bằng 1,86% số gói thầu áp dụng chỉ định thầu nhưng mang lại giá trị tiết kiệm cao hơn so với giá trị tiết kiệm do chỉ định thầu mang lại. Các hình thức lựa chọn nhà thầu khác như mua sắm trực tiếp, mua sắm đặc biệt hay tự thực hiện được áp dụng với hơn 4000 gói thầu nhưng lại đạt tỷ lệ tiết kiệm cao nhất là 9%
Xu hướng đề nghị được áp dụng hình thức chỉ định thầu vẫn còn nhiều, không thực hiện đúng theo tinh thần đã phân cấp
Căn cứ tình hình thực tế về chỉ định thầu được tổng hợp từ ngày Nghị định 85/2009/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thấy rằng có một số bất cập liên quan đến việc thực hiện chỉ định thầu như việc quyết định áp dụng hình thức chỉ định thầu của nhiều gói thầu là trách nhiệm của người có thẩm quyền (Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND tỉnh…). Tuy nhiên, trong một số trường hợp người cú thẩm quyền vẫn trình văn bản đến Thủ tướng Chính phủ đề nghị chấp thuận áp dụng chỉ định thầu (một số tỉnh như Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam...). Việc này dẫn đến kéo dài thời gian trong đấu thầu, tăng thủ tục hành chính trong đấu thầu do không nghiên cứu kỹ quy định của pháp luật hoặc né tránh trách nhiệm, gây lãng phí thời gian của cơ quan Chính phủ.
Nhiều gói thầu không thuộc trường hợp được áp dụng chỉ định thầu quy định tại Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, Nghị định 85/CP, cần được tổ chức đấu thầu rộng rãi hoặc áp dụng các hình thức lựa chọn khác phự hợp theo quy định, nhưng một số Bộ ngành, địa phương vẫn trình văn bản đến Thủ tướng Chính phủ đề nghị chấp thuận áp dụng chỉ định thầu theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 40 Nghị định 85/CP, từ đó dẫn đến kéo dài thời gian triển khai dự án và không phù hợp với mục tiêu của công tác đấu thầu.
Việc lạm dụng đề nghị được chỉ định thầu nói trên là do chưa quán triệt đầy đủ các quy định của pháp luật đấu thầu, mặt khác do chưa quy định cụ thể các tiêu chí thực hiện chỉ định thầu trong trường hợp đặc biệt khác quy định tại điểm k khoản 2 Điều 40 Nghị định 85/2009/NĐ-CP.
Vấn đề quản lý sau đấu thầu chưa được thực hiện thường xuyên và chưa được quan tâm đúng mức: sản phẩm của quá trình đấu thầu cuối cùng là hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu trúng thầu. Hiệu quả đạt được từ công tác đấu thầu phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hiện nghĩa vụ và ràng buộc giữa chủ đầu tư và nhà thầu như đã nêu trong hợp đồng. Tuy nhiên, theo báo cáo của các địa phương thì trong một số trường hợp việc quản lý thực hiện hợp đồng còn chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là trong bối cảnh giá cả leo thang.
Trong một số trường hợp ở các gói thầu xây lắp, nhà thầu có tâm lý thực hiện hợp đồng cầm chừng để được điều chỉnh giá trị hợp đồng khi có các thay đổi về chính sách của nhà nước về tiền lương, giá ca máy,... Trong một số trường hợp khác, nhà thầu khi thực hiện hợp đồng đã không đảm bảo được năng lực tài chính dẫn đến chậm trễ trong triển khai dự án. Ngoài ra, một số chủ đầu tư chưa quan tâm thực hiện công tác giám sát thi công, đôn đốc các nhà thầu xây lắp đảm bảo tiến độ đúng quy định.
Hoạt động kiểm tra đấu thầu chưa được thực hiện đồng đều ở các Bộ, ngành và địa phương, theo báo cáo của Bộ, ngành, địa phương, nội dung kiểm tra đấu mới chỉ được lồng ghép trong hoạt động giám sát, thanh tra tổng thể đầu tư, chưa thực hiện kiểm tra mang tính chuyên sâu về nghiệp vụ. Do đó, kết quả kiểm tra còn nhiều hạn chế, chưa bao quát được bức tranh toàn cảnh về tình hình thực hiện đấu thầu của Bộ ngành, địa phương và còn chưa kịp thời chấn chỉnh công tác đấu thầu.
Công tác báo cáo tình hình xử lý vi phạm chưa đầy đủ, theo quy định của Luật Đấu thầu, Quyết định xử lý vi phạm của người có thẩm quyền phải gửi đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp và đăng tải rộng rãi. Qua đó, chủ đầu tư, bên mời thầu biết được đơn vị nào bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu do khi đã bị cấm đấu thầu tại một địa phương sẽ bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu trên toàn quốc. Tuy nhiên từ khi Luật Đấu thầu có hiệu lực đến nay việc xử lý vi phạm đã được thực hiện ở nhiều địa phương, Bộ ngành nhưng số lượng các Quyết định xử lý vi phạm gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư còn rất hạn chế.
Số lượng báo cáo tổng kết đấu thầu tốt hơn so với năm trước song vẫn cần tiếp tục cải thiện về chất lượng báo cáo
Do có sự đôn đốc và nhắc nhở quyết liệt nên đến hết thời hạn gửi báo cáo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận được tương đối đầy đủ của các Bộ ngành địa phương. Tuy nhiên, nhiều báo cáo chưa đảm bảo chất lượng do chỉ tập trung vào số liệu mà chưa phân tích đánh giá tình hình hình thực tế, chưa nêu được các khó khăn, vướng mắc, các nguyên nhân khách quan, chủ quan và giải pháp kiến nghị để hoàn thiện công tác đấu thầu. Mặt khác, trong báo cáo của một số địa phương còn chưa phản ánh đầy đủ, chưa tập hợp hết được số liệu về tất cả các gói thầu đã thực hiện. Việc số liệu thống kê chưa đầy đủ như vậy có ảnh hưởng trực tiếp đến tính trung thực của báo cáo tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ. Một số đơn vị có gửi báo cáo đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhưng không gửi đính kèm bảng tổng hợp số liệu hoặc gửi số liệu chi tiết của các đơn vị thành viên mà không tổng hợp thành biểu báo cáo chung, ví dụ như UBND tỉnh Trà Vinh gửi báo cáo số liệu không đầy đủ, Tập đoàn Dầu khí chỉ gửi báo cáo theo biểu 2 và 3 mà không gửi biểu 1, Tổng công ty công nghiệp xi măng và Bộ Khoa học công nghệ không tổng hợp số liệu chung mà gửi báo cáo chi tiết của các công ty con.
Ngoài ra, một số cơ quan như UBND tỉnh Điện Biên, Bộ Y tế, Uỷ ban dân tộc, Văn phòng Chính phủ, Ban tôn giáo Chính phủ, Đài truyền hình Việt Nam không gửi báo cáo công tác đấu thầu đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp.
Một số biện pháp triển khai thực hiện công tác đấu thầu năm 2011 được Bộ kế hoạch và đầu tư đưa ra như sau:
Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu: Nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu luôn là trọng tâm của công tác quản lý nhà nước về đấu thầu. Sau khi Nghị định 85/CP được ban hành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương rà soát, sửa đổi các văn bản hướng dẫn đã ban hành cho phù hợp với Nghị định mới. Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang trình Chính phủ về việc bổ sung sửa đổi Luật Đấu thầu và đưa vào chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh năm 2012-2013 của Quốc hội. Các Bộ có liên quan như Bộ Tài Chính, Bộ Công Thương cần sớm sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn đã ban hành; thực hiện ban hành các văn bản hướng dẫn theo nhiệm vụ được Chính phủ giao để đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý và tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện.
Tổ chức phổ biến quán triệt thực thi pháp luật về đấu thầu và nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác đấu thầu: Việc phân cấp trong đấu thầu đã và đang được các Bộ ngành, địa phương triển khai triệt để, đến tận cấp xã, phường (thậm chí hiệu trưởng các trường tiểu học, trung học cũng được phân cấp thẩm quyền phê duyệt quyết định đầu tư, là người có thẩm quyền trong đấu thầu). Tuy nhiên, năng lực của chủ đầu tư ở cấp huyện, xã, các trường học, bệnh viện..., của một số đơn vị tư vấn, bên mời thầu còn nhiều hạn chế. Vì vậy, tổ chức phổ biến, quán triệt thi hành các quy định của pháp luật hiện hành về đấu thầu cho chủ đầu tư, bên mời thầu, các tổ chức tư vấn thông qua đào tạo, bồi dưỡng tăng cường năng lực cho các cán bộ làm công tác đấu thầu là cần thiết.
Trên cơ sở quy định của Luật Đấu thầu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, mạng lưới các đơn vị tổ chức hoạt động đào tạo về đấu thầu cũng đã từng bước được hình thành. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo còn chưa đồng đều. Do đó, trong thời gian tới, cần có các quy định cụ thể về việc quản lý chất lượng đào tạo, chương trình khung đào tạo để phát triển một mạng lưới đào tạo có chất lượng đảm bảo, góp phần triển khai sâu rộng các hoạt động đào tạo bồi dưỡng, góp phần giúp việc thực thi Luật Đấu thầu được thống nhất và đúng quy định.
Xây dựng và hoàn chỉnh các công cụ đăng tải thông tin: Báo Đấu thầu đã trở thành công cụ đắc lực của cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng để giám sát việc công khai và minh bạch hóa thông tin của đơn vị tổ chức đấu thầu, đồng thời thống nhất thông tin về một đầu mối, giúp dễ dàng cho việc tiếp cận, tìm kiếm, quản lý thông tin cũng như giảm thiểu được các chi phí cho các đối tượng quan tâm. Việc không ngừng nâng cấp và hoàn thiện cơ chế đăng tải, nội dung đăng tải và cơ chế phát hành rộng rãi sẽ giúp các đơn vị dễ dàng hơn khi đăng ký đăng tải thông tin, nhà thầu dễ dang tiếp cận với thông tin đấu thầu, nhờ đó việc công khai thông tin trong đấu thầu ngày càng được phát huy. Do đó, trong thời gian tới, việc mở rộng phạm vi đăng tải và nâng cấp nội dung đăng tải trên trang thông tin điện tử cũng hết sức cần thiết để hoàn thiện và tăng cường công cụ đăng tải thông tin, đảm bảo nhanh chóng, hữu dụng nhất đối với người dùng. Đồng thời, trang thông tin điện tử về đấu thầu cần được mở rộng khai thác, đưa hình thức đấu thầu qua mạng trở thành một công cụ mạnh và hiệu quả của Nhà nước trong việc công khai, minh bạch thông tin đấu thầu, nâng cao hiệu quả và tiết kiệm trong hoạt động mua sắm chính phủ. Việc triển khai thực hiện Dự án Ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm chính phủ (đã được phê duyệt) là hết sức cần thiết nhằm tiếp tục nâng cấp, mở rộng trang thông tin điện tử về đấu thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cả về chức năng, nội dung và giao diện.
Tăng cường phân cấp đi đôi với tiến hành kiểm tra, thanh tra thường xuyên công tác đấu thầu: Bên cạnh việc tăng cường phân cấp, ủy quyền cho chủ đầu tư tạo sự chủ động, linh hoạt trong đấu thầu thì các cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành kiểm tra, thanh tra thường xuyên công tác đấu thầu để đảm bảo việc thực hiện của chủ đầu tư tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đảm bảo đạt được mục tiêu thực hiện dự án, sớm ngăn chặn, phát hiện và có biện pháp xử lý kịp thời đối với các hành vi vi phạm góp phần chấn chỉnh và chuẩn hóa hoạt động đấu thầu tại Bộ ngành, địa phương mình.
Khắc phục tình trạng đề nghị chỉ định thầu tràn lan, không thực hiện theo tinh thần đã phân cấp: Trong thời gian tới, các Bộ, ngành và địa phương cần thực hiện nghiêm túc quy định của nhà nước về việc áp dụng chỉ định thầu (lưu ý đối với một số tỉnh như Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam...). Việc áp dụng chỉ định thầu chỉ được xem xét đối với các trường hợp đã được quy định trong Luật Đấu thầu và Nghị định 85/CP. Khi áp dụng chỉ định thầu, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm xem xét, quyết định áp dụng chỉ định thầu đối với các gói thầu có đủ điều kiện và trong trường hợp thật cần thiết (trừ trường hợp đặc biệt cần phải trình Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại điểm k Khoản 2 Điều 40 Nghị định 85/CP).
Trường hợp các gói thầu đủ điều kiện áp dụng chỉ định thầu nhưng vẫn có thể tổ chức đấu thầu thì khuyến khích các đơn vị áp dụng đấu thầu rộng rãi để vừa có cơ hội lựa chọn được nhà thầu có năng lực và kinh nghiệm đáp ứng vừa mang lại tỷ lệ tiết kiệm cao cho nền kinh tế nước nhà.
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu trong năm 2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ sửa đổi toàn diện Luật Đấu thầu và Luật số 38/2009/QH12 để ban hành Luật Đấu thầu mới và đưa việc sửa đổi Luật Đấu thầu và Luật số 38/2009/QH12 vào chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội năm 2012-2013; yêu cầu các Bộ ngành, địa phương chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ các quy định của pháp luật về đấu thầu; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về đấu thầu và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm các quy định pháp luật về đấu thầu; yêu cầu các Bộ Tài Chính và Bộ Công Thương khẩn trương rà soát, sửa đổi các văn bản hướng dẫn về đấu thầu đã ban hành và ban hành các văn bản hướng dẫn mới như đã được Chính phủ giao tại Điều 76 của Nghị định 85/2009/NĐ-CP; yêu cầu các Bộ ngành, địa phương tập trung tăng cường bố trí vốn và chỉ đạo việc thực hiện dứt điểm đối với các gói thầu/dự án nằm trong danh mục được Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng chỉ định thầu và gia hạn sang năm 2011 để đảm bảo hoàn thành trước cuối năm 2011. Trường hợp không thể bố trí vốn để hoàn thành trong năm 2011, đề nghị các các Bộ ngành, địa phương chuyển sang áp dụng hình thức đấu thầu hoặc các hình thức lựa chọn nhà thầu khác theo quy định hiện hành; yêu cầu các Bộ ngành, địa phương hạn chế việc áp dụng chỉ định thầu, đảm bảo chỉ những trường hợp thực sự cần thiết mới xem xét, quyết định áp dụng chỉ định thầu. Trường hợp các gói thầu đủ điều kiện áp dụng chỉ định thầu nhưng vẫn có thể tổ chức đấu thầu (như trường hợp gói thầu nằm trong hạn mức được áp dụng chỉ định thầu..) thì thực hiện tổ chức đấu thầu theo quy định để đảm bảo hiệu quả kinh tế và tránh gây lãng phí nguồn vốn nhà nước, không trình Thủ tướng Chính phủ xin phép áp dụng chỉ định thầu những gói thầu nằm trong thẩm quyền quyết định của mình hoặc các gói thầu không đủ điều kiện theo điểm k khoản 2 Điều 40 Nghị định 85/CP; yêu cầu các Bộ ngành, địa phương chỉ đạo việc tăng cường đào tạo và nâng cao năng lực cho chủ đầu tư, bên mời thầu để đảm bảo thực hiện tốt việc phân cấp trong đầu tư xây dựng cơ bản.
Từ các nội dung phân tích nêu trên và căn cứ yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã dự thảo và trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Chỉ thị chấn chỉnh việc thực hiện các quy định về đấu thầu, nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu nhằm đảm bảo mục tiêu của công tác đấu thầu là công khai, minh bạch, công bằng, cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.