Vỏ quýt dày thiếu móng tay nhọn (kỳ 4)

07/06/2011

New Page 1

KỲ 4
VỎ QUÝT DÀY THIẾU MÓNG TAY NHỌN
Trong tổng số các hợp đồng EPC trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam, nhà thầu Trung Quốc giành được 20%. Trong lĩnh vực nhiệt điện đốt than, số hợp đồng có sự tham gia của nhà thầu Trung Quốc chiếm khoảng 70%. Chỉ xét riêng đấu thầu rộng rãi quốc tế, trong số 8 gói thầu EPC nhiệt điện đốt than, có 4 nhà thầu Trung Quốc trúng thầu, 1 nhà thầu liên danh Nhật Bản+Trung Quốc và 3 nhà thầu G8. Nếu tính nhà thầu liên danh Đông Phương+Marubeni là nhà thầu Trung Quốc thì có tới 5/8 nhà thầu Trung Quốc trúng thầu, chiếm 62,5%. Xét trên phạm vi cả nước, trong tổng số 26 gói thầu đấu thầu rộng rãi quốc tế, nhà thầu Trung Quốc trúng 11 gói (chiếm 42%); nhà thầu Việt Nam chỉ trúng 1 gói (chiếm 4%), còn lại 14 gói thuộc về nhà thầu G7 và nhà thầu liên danh (chiếm 54%).
Việc nhà thầu Trung Quốc trúng thầu nhiều gói thầu EPC nhiệt điện đốt than đấu thầu rộng rãi quốc tế có thể do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, giá dự thầu của nhà thầu Trung Quốc rất cạnh tranh, thậm chí thấp hơn nhiều so với nhà thầu từ các quốc gia khác. Một số nhà thầu cố tình hoặc vô tình không lường trước được biến động thị trường nên đã chào giá rẻ để trúng thầu, để có việc làm và bán được thiết bị, đến khi thực hiện dự án gặp khó khăn.
Thứ hai, nhà thầu Trung Quốc được Chính phủ và ngân hàng thương mại ở Trung Quốc ưu đãi vay vốn để thực hiện hợp đồng ở nước ngoài. Vì vậy, đối với các gói thầu của Việt Nam yêu cầu nhà thầu tự thu xếp vốn thì nhà thầu Trung Quốc có ưu thế hơn hẳn so với nhà thầu từ các nước khác, kể cả từ các quốc gia G8. Chi phí lãi vay của các nhà thầu Trung Quốc cũng thấp hơn so với nhà thầu từ quốc gia khác do nhận được sự ưu đãi của Chính phủ và ngân hàng trong nước họ.
Thứ ba, nhà thầu Trung Quốc làm “bài thi” rất đẹp. Hồ sơ dự thầu (HSDT) của họ thường cam kết đạt yêu cầu như nêu trong hồ sơ mời thầu (HSMT). Cá biệt có những nhà thầu Trung Quốc chép y nguyên yêu cầu trong HSMT làm nội dung đề xuất của HSDT. Vì vậy, nhiều khi nhà thầu Trung Quốc có điểm kỹ thuật cao, thậm chí cao hơn nhà thầu của Nhật Bản. Chẳng hạn, đối với gói thầu Nhiệt điện Cẩm Phả 1 (đấu thầu lần 1), trong khi điểm kỹ thuật của nhà thầu Marubeni (Nhật Bản) là 90,415 điểm thì nhà thầu liên danh Tập đoàn Điện khí Thượng Hải+Tập đoàn Kinh tế đối ngoại Thượng Hải là 92 điểm.
Đây là lý do mà tại kỳ 3, người viết cho rằng, mục tiêu loại bỏ nhà thầu Trung Quốc với đề xuất “kết hợp giữa giá và điểm kỹ thuật” thay thế tiêu chí “giá đánh giá thấp nhất” sẽ khó lòng đạt được. Điểm kỹ thuật của nhà thầu Trung Quốc trong gói thầu EPC thường không thấp như dư luận thường nghĩ.
Nhà thầu Trung Quốc có nhiều “mẹo” trong khi tham dự thầu và thực hiện hợp đồng, ngoài việc làm “bài thi” đẹp, có trường hợp nhà thầu Trung Quốc là Đông Phương bị loại vì không đủ kinh nghiệm và năng lực (gói thầu Nhiệt điện Hải Phòng 1), sau đó, khi đấu thầu lần 2, nhà thầu này đã liên danh với nhà thầu Marubeni (Nhật Bản). Tuy nhiên, phần lớn khối lượng công việc sau này là do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận mặc dù khi tham gia đấu thầu, nhà thầu Đông Phương “dựa hơi” nhà thầu Nhật Bản để được đánh giá là đạt về năng lực, kinh nghiệm. Bóng dáng nhà thầu Nhật Bản cực kỳ mờ nhạt trong quá trình thực hiện hợp đồng sau này. Đây cũng là một cách “vận dụng” của nhà thầu Trung Quốc, đòi hỏi chủ đầu tư phải có cơ chế giám sát, quản lý hợp đồng hữu hiệu.
Với “vỏ quýt dày” của nhà thầu Trung Quốc như vậy, thử xem “móng tay” của chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu… phía Việt Nam “nhọn” đến cỡ nào?
Trước tiên phải xem khâu lập, thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu tư, dự toán. Hiện nay, như đã đề cập ở kỳ 3, có những trường hợp phải duy trì tổng mức đầu tư thấp để có đầu ra là giá điện thấp.
Ngoài ra, đối với những gói thầu EPC thực hiện khi đã có dự toán thì dự toán được lập thường không theo sát thực tế. Đối với gói thầu nhiệt điện đốt than, phần thiết bị bao gồm lò hơi, máy phát điện, tua bin chiếm tỷ trọng lớn trong giá gói thầu, tuy nhiên dự toán hầu như chưa theo kịp giá thị trường đối với giá thiết bị, mặc dù dự toán khá sát với các phần việc về xây dựng.
Điều này có thể do nhiều nguyên nhân như: thời gian từ khi lập dự toán đến khi phát hành HSMT kéo dài do việc lập, thẩm định phê duyệt dự toán, lập, thẩm định, phê duyệt HSMT bị chậm trễ làm cho dự toán không theo kịp giá thị trường; giá cả thiết bị khó xác định vì đây là mặt hàng khá đặc thù, chỉ một số nhà sản xuất cung cấp mặt hàng này và giá cả cũng là bí mật kinh doanh của họ. Trình độ đơn vị tư vấn lập dự toán còn hạn chế. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng chủ đầu tư, đơn vị tư vấn “gọt chân cho vừa giày”, hạ thấp tổng đầu tư và dự toán để không phải trình duyệt lên cấp cao hơn. Cũng không loại trừ khả năng là tổng mức đầu tư thấp vì “của cải - tài sản” đã được xác định trước mà với mức tổng mức đầu tư như vậy thì chỉ có thể mua “của cải - tài sản” này. Nói cách khác, “của cải - tài sản” đã được chỉ định thầu từ khi có quyết định đầu tư và việc đấu thầu sau này chỉ mang tính hình thức.
Việc tổng mức đầu tư, dự toán không theo sát thực tế (thông thường là dự toán thấp hơn giá thị trường) dẫn đến trong nhiều trường hợp giá dự thầu của các nhà thầu G8 vượt giá gói thầu. Giá gói thầu thấp cũng không hấp dẫn các nhà thầu G8. Khi đó, chủ đầu tư chỉ có thể lựa chọn được các nhà thầu giá rẻ có thương hiệu, chất lượng thấp hơn.
Hơn nữa, HSMT gói thầu EPC chủ yếu do các Ban quản lý dự án hoặc công ty tư vấn thuộc các Tập đoàn hoặc do các Viện nghiên cứu lập. Nhiều HSMT chưa thật sát với yêu cầu về công nghệ và kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu. Các đơn vị tư vấn tuy có năng lực về lập dự án đầu tư nhưng lại thiếu kinh nghiệm để lập HSMT gói thầu EPC. Điều này cũng dễ hiểu, vì gói thầu EPC trong ngành điện mới xuất hiện khoảng trên 10 năm gần đây với số lượng không nhiều nên các đơn vị tư vấn trong nước chưa thể có nhiều kinh nghiệm. Do đơn vị tư vấn thiếu kinh nghiệm nên nhìn chung HSMT gói thầu EPC thường không đầy đủ chi tiết, chất lượng không cao. Với một đề thi “bình thường” thì khó lòng sàng lọc và loại bỏ được nhà thầu có năng lực và kinh nghiệm yếu.
Ngoài ra, đơn vị tư vấn còn lúng túng trong việc xây dựng những nội dung quan trọng nhất của HSMT là yêu cầu về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu, yêu cầu về kỹ thuật, cách thức xác định giá đánh giá và nội dung hợp đồng.
Yêu cầu của HSMT sẽ quyết định việc nhà thầu chào phương án kỹ thuật. Để minh họa, hãy xem xét yêu cầu về năng lực của nhà thầu thiết kế lò hơi trong HSMT nhiệt điện Cẩm Phả 1. Ở dự án Nhiệt điện Cẩm Phả 1, HSMT yêu cầu nhà thầu phụ thiết kế lò hơi phải có chứng chỉ kinh nghiệm thiết kế lò hơi về nhiệt điện đốt than công suất 100 MWe. Các lò hơi phải có thời gian vận hành thương mại thành công ít nhất là 36 tháng tính từ ngày mở thầu. Với quy định như vậy, nhà thầu Công trình điện Cáp Nhĩ Tân - HPE (giành hợp đồng nhiệt điện Cẩm Phả 1) đã bị loại khi tham gia đấu thầu trong cuộc đấu thầu lần thứ hai của gói thầu này. Lý do là nhà thầu phụ thiết kế lò hơi (một nhà thầu Trung Quốc) không đảm bảo yêu cầu của HSMT và bảo lãnh dự thầu không hợp lệ. Sau đó, nhà thầu này đã bày tỏ được tiếp tục tham gia Dự án và đề xuất chọn lò hơi do Công ty Foster Wheeler North American - một trong hai nhà sản xuất lò hơi hàng đầu thế giới, thiết kế và bảo hành. Công ty lò hơi Harbin chế tạo lò hơi dưới sự giám sát của Foster Wheeler. Ở lần đàm phán giữa chủ đầu tư và các nhà thầu (bao gồm nhà thầu Marubeni và nhà thầu HPE), nhà thầu HPE đã được chấp nhận như đề cập ở kỳ 3. Để đáp ứng yêu cầu của HSMT, nhà thầu HPE đã phải thay đổi nhà thầu phụ thiết kế lò hơi từ một nhà thầu Trung Quốc sang một nhà thầu Mỹ. Ví dụ trên cho thấy, yêu cầu của HSMT sẽ quyết định nhà thầu được lựa chọn như thế nào.
Cũng giống như việc các nước phát triển ngăn chặn hàng hóa kém chất lượng từ các nước khác bởi hàng rào kỹ thuật, Việt Nam muốn tránh nhà thầu nước ngoài có hàng hóa chất lượng kém thì cần yêu cầu năng lực, kinh nghiệm, yêu cầu về kỹ thuật, đưa ra công thức xác định giá đánh giá… phù hợp.
Ngoài ra, về đánh giá HSDT, đơn vị tư vấn trong nước chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc lập HSMT, đánh giá HSDT nên còn nhiều lúng túng. Với một “bài thi” đẹp của nhà thầu Trung Quốc: đề xuất kỹ thuật, các thông số vận hành đều vượt yêu cầu, thậm chí còn cao hơn nhà thầu Nhật Bản thì đơn vị tư vấn phải đủ sáng suốt, nhạy bén để xác định đâu là thông tin thật, đâu là thông tin chưa chính xác mà nhà thầu kê khai để trúng thầu. Để làm được điều này đòi hỏi chủ đầu tư, đơn vị tư vấn phải thực sự giỏi chuyên môn. Thực tế là không phải đơn vị tư vấn nào cũng đủ kinh nghiệm, kiến thức, năng lực để phát hiện “các mẹo” của nhà thầu.
Về hợp đồng và quản lý hợp đồng, đây quả thật là một trong những khâu yếu nhất trong quy trình quản lý dự án, đấu thầu. Sự yếu kém trong công tác quản lý hợp đồng sẽ được bàn kỹ hơn trong kỳ sau của bài viết.
Về phía nhà thầu Việt Nam, trên phạm vi cả nước, cho đến nay chỉ có duy nhất nhà thầu là Tổng công ty Lắp máy Việt Nam đã từng thực hiện gói thầu EPC nhiệt điện với vai trò là nhà thầu EPC. Số lượng nhà thầu Việt Nam tham gia thực hiện gói thầu EPC nhiệt điện với tư cách là nhà thầu phụ cũng không nhiều, đặc biệt nhà thầu phụ lắp đặt (lắp đặt lò hơi, thiết bị phụ trợ…) thì lại càng ít ỏi. Vì vậy, nhìn chung, kinh nghiệm là nhà thầu chính hay nhà thầu phụ của nhà thầu Việt Nam đối với gói thầu EPC nhiệt điện đốt than rất hạn chế.
Như vậy, xét về tương quan lực lượng thì “vỏ quýt dày” của nhà thầu Trung Quốc lấn át “móng tay… chưa nhọn” của chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu phía Việt Nam. Hậu quả của cán cân lực lượng này là nhà thầu Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục chiếm lĩnh thị trường nhiệt điện của Việt Nam nếu nhà thầu, chủ đầu tư, tư vấn trong nước không nỗ lực vươn lên và Nhà nước không có giải pháp phù hợp.
Xem tiếp kỳ 5